Chuyến tham quan Côn Đảo - Vũng Tàu của CB-GV trường THCS Trưng Vương
Đường từ sân bay Côn Sơn vào trung tâm huyện đảo dài khoảng 10 km và đây là con đường duy nhất, chạy dọc ven biển. Những cung đường được tráng nhựa phẳng lỳ nhưng quanh co, hiểm trở. Cảm giác đi trên cung đường ấy thật lạ, hồi hộp và đầy ấn tượng. Quá khứ chẳng thể ngủ yên khi nỗi mất mát của con người quá lớn.
13h máy bay cất cánh, đoàn CB-GV gần 60 người chúng tôi rời thành phố Hồ Chí Minh đi Côn Đảo với những tâm trạng thật đặc biệt. Nghe kể đã nhiều nhưng giờ mới có dịp đặt chân tới đây, mới có dịp tìm hiểu thế nào là "điạ ngục trần gian" nơi Côn Đảo, vì thế ai cũng muốn nhìn thật rõ, ít ra là con đường đến Côn Đảo như thế nào. Rõ ràng, nhìn từ trên cao, mọi thứ đều nhỏ bé, kể cả, cái dữ dội của đại dương cũng bỗng chốc hoá thành dịu êm…Sau gần 45 phút khởi hành, ai cũng muốn nhìn rõ Côn Sơn (tức Côn Đảo) từ trên cao, để hình dung miền đất ấy thật ra thế nào, nhất là hình dạng của nó giữa sự mênh mông của biển cả.

Đường từ sân bay Côn Sơn vào trung tâm huyện đảo dài khoảng 10 km và đây là con đường duy nhất, chạy dọc ven biển. Những cung đường được tráng nhựa phẳng lỳ nhưng quanh co, hiểm trở. Cảm giác đi trên cung đường ấy thật lạ, hồi hộp và đầy ấn tượng. Quá khứ chẳng thể ngủ yên khi nỗi mất mát của con người quá lớn. Hàng loạt những công trình, kiến trúc vẫn còn đó như một minh chứng cho một thời kỳ đau thương lịch sử. Trong suốt 113 năm (từ tháng 2 năm 1862 đến tháng 5 năm 1975), kẻ thù đã giam giữ, tù đày, tra tấn hàng vạn người yêu nước và các chiến sĩ cộng sản. Gắn với mỗi cái tên công trình, kiến trúc là hàng trăm, thậm chí hàng ngàn những con người bị tra tấn đã ngã xuống

Nghĩa trang Hàng Dương, nơi yên nghỉ của hơn hai vạn chiến sĩ cách mạng năm xưa

Ngày xưa với chế độ chôn tù vô cùng sơ sài, chỉ an táng bằng hai chiếc bao bàng, một trùm trên đầu xuống , và một trùm dưới chân lên cột lại bằng vài ba nuột dây rừng, vùi lấp người tù xuống Hàng Dương đầy nắng và cát,... Vì thế từng có những câu thơ:
Núi Côn Lôn được pha bằng máu
Đất Côn Lôn năm sáu lớp xương người
Mỗi bước chân che lấp một cuộc đời
Mỗi tảng đá là một trời đau khổ
Nghĩa địa Hàng Dương vùi thây bao số phận
Hết lớp này lớp khác dập lên trên
Mặt phẳng lì không mô đất nhô lên
Không bia mộ không tên và không tuổi.

Khu Sân Hành Lễ, biểu tượng cho một nắm mộ tập thể, do KTS Nguyễn Trực Luyện ( Chủ tịch Hiệp Hội Kiến Trúc Sư Việt Nam) thiết kế, chiều cao tượng đài 21.6m (2+1+6 =9), tượng đài được nghép từ 144 phiến đá (1+4+4=9). Khu đế tượng duoc xây thành 9x9 m. Nhà Thiết kế chọn con số 9 là con số đẹp theo triết học Phương Đông.

Khu Vườn tượng là Phù điêu Bất Khuất nằm giữa- thể hiện hai chủ đề chính " Côn đảo vừa là Địa Ngục Trần Gian vừa là Trường Học Cách Mạng". Tay trái là tượng đài Hy Vọng, người phụ nữ và chú chim bồ câu trên tay, đây là thiết kế của nữ thiết kế Phan Gia Hương, thể hiện cho sự hòa bình và hy vọng, và đây không phải là tượng đài của chi Võ Thị Sáu. Tay phải là tượng người đàn ông trên tay cầm mãnh áo, đó là tượng đài trao áo .

Chúng tôi thật xúc động khi được tận mắt nhìn thấy, nơi đây có hàng ngàn ngôi mộ chỉ đơn giản có một tấm bia đỏ gắn ngôi sao vàng năm cánh, bởi vì các anh mất mà giờ đây không thể tìm được tên tuổi để trả lại cho các anh.

Nơi chúng tôi dừng chân lâu nhất ở Nghĩa trang là ngôi mộ chị Võ Thị Sáu - nữ anh hùng hy sinh khi tuổi đời còn mười tám đôi mươi. Chúng tôi đã nghe về sự hy sinh của chị nhiều lần, nhưng có lẽ chưa lần nào thấy đặc biệt như lần này. Những hình ảnh về nhà tù, sự dã man của kẻ địch mà chúng tôi được chứng kiến lúc trước lại ùa về tôn thêm khí phách anh hùng của chị trước lúc hy sinh. Ngắm nhìn hình ảnh chị được tạc trên một phiến đá trắng tròn như vành trăng rằm, ánh mắt chị như nhìn chúng tôi trìu mến, mái tóc ngắn buông xõa không làm mất đi vẻ nghị lực trên khuôn mặt chị. Thật cảm phục người nữ chiến sĩ biết sống và hy sinh cho lý tưởng, cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Thành kính dâng lên những nén hương thơm ngát trên mộ chị Võ Thị Sáu, chúng tôi, không ai bảo ai, mọi người tỏa ra thắp hương cho rất nhiều những ngôi mộ xung quanh tưởng nhớ đến các chiến sỹ cách mạng đã hy sinh cống hiến trọn cả cuộc đời mình cho Tổ quốc. Thật xúc động khi chúng tôi tìm thấy có những ngôi mộ ghi tên của 5-6 đồng chí, đuợc biết đó là những ngôi mộ tập thể địch sát hại một lúc và chôn các đồng chí cùng chung một huyệt.

Chúng tôi đến Nhà Chúa Đảo, được xây dựng từ cuối thế kỷ 19, đây là nơi thực hiện sự cai trị hà khắc của 53 đời Chúa đảo, trong đó có 39 đời Chúa đảo người Pháp và 14 đời Chúa đảo người Việt.

Hiện nay nơi đây là Nhà trưng bày di tích lịch sử nhà tù Côn Đảo. Những bức ảnh, những hiện vật ở đây tái hiện lại một phần sự áp bức, tra tấn dã man mà các chiến sĩ cộng sản phải chịu đựng trong thời gian bị giam cầm tại đây. Có hai bức ảnh khiến mọi người nhớ mãi, một bức có hình ảnh một người tù nhỏ bé, gầy guộc vác tảng đá bị ngã xuống dưới làn roi của một tên lính người Pháp và bức ảnh thứ hai là cảnh chụp từ trên cao của “chuồng cọp Pháp”, bên dưới là một nữ chiến sĩ cách mạng còn rất trẻ, đang giơ tay hô vang quyết tâm với ánh mắt nhìn đầy dũng cảm chứa đựng sự hờn căm.Trước khi rời nhà trưng bày, chúng tôi còn được nhận một chiếc huy hiệu lưu niệm do những nữ nhân viên ở đây tự tay đeo cho mỗi người cùng với lời cảm ơn và hẹn gặp lại.

Sau khi rời nhà Chúa đảo, chúng tôi được đi tham quan hệ thống nhà tù của thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ. ở bên ngoài, nắng vẫn chói chang, nhưng trong khu trại giam, tất cả, kể cả thời gian dường như ngưng đọng lại, tất cả toát lên một vẻ tăm tối và âm u mà những ai yếu bóng vía chắc chắn không khỏi ớn lạnh. Trong đoàn chúng tôi, ai cũng xúc động và bồi hồi khi tận mắt được nhìn thấy nơi giam cầm các chiến sĩ cách mạng, trong đó có những tên tuổi mãi gắn với lịch sử của Đảng ta, của cách mạng Việt Nam. Những phòng giam tập thể với cùm sắt, dây kẽm gai đến những xà lim đá ngột ngạt hay “hầm xay lúa”, “hầm phân bò” cho những tử tù…tất cả đều hằn lên những tang thương mà Đế quốc thực dân đã gây ra khiến cho chúng tôi phải tự hỏi, điều gì đã giúp các anh, các chị chịu đựng, vượt qua được. Phải chăng đó là lòng yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm và ngon lửa cách mạng – ngọn lửa tự do cháy trong mỗi con người…



Côn Đảo ngày nay, đã là một mảnh đất thanh bình và ấm áp tình người. Tuy vậy, vẫn không thể nào xua tan được những nỗi đau thương của vùng đất – một thời được ví là: địa ngục trần gian. Có tận mắt chứng kiến những màn tra tấn man rợ, những “chuồng bò”, “chuồng cọp”, những màn tra khảo “tắm nắng”, rải vôi bột lên những tù nhân vốn đã tiều tụy, lở loét mới cảm nhận hết được những mất mát, hy sinh của biết bao thế hệ. Tuy vậy, trong hoàn cảnh đó, nhưng các cô, các chú “tù chính trị” vẫn nhất mực kiên trung, và đã có nhiều hoat động, nỗ lực nhằm biến nhà tù thành trường học, và, cũng từ đó, đã xuất hiện nhiều huyền thoại liên quan đến mảnh đất anh hùng này… mà đỉnh điểm là những cuộc vượt ngục về đất liền bằng bè tự tạo. Chiến tranh đã qua đi. Nhưng cảm giác xót xa vẫn còn hiện rõ trên gương mặt của mỗi người khi đến viếng hương hồn của các cô, các chú, các anh tại nghĩa trang Hàng Dương. Không xót xa sao được khi đã có hơn 20 vạn người mãi mãi nằm xuống tại mảnh đất này, vậy mà đến nay, dù đã rất nỗ lực tìm kiếm, nhưng Hàng Dương chỉ mới quy tụ được hơn 1900 phần mộ của các cô, các chú, các anh mà trong đó quá nửa là những phần mộ liệt sĩ vô danh.



Đường về, chúng tôi trở lại thăm quê hương chị Võ Thị Sáu tại Long Đất

Chuyến hành trình về nguồn nhanh chóng trôi qua, chúng tôi lưu luyến tạm biệt Côn Đảo- Vũng Tàu, tạm biệt các anh hùng liệt sỹ, những di tích lịch sử và cả những tán lá bàng biển rợp bóng mát mà tấm lòng của chúng tôi sẽ còn lưu lại mãi nơi đây. Và trời hôm ấy xanh lắm. Xanh như những ước mơ mà chúng tôi đã mang theo khi rời mảnh đất lịch sử này...